12 thg 3, 2010

48. THỦY PHONG TỈNH

Trên là Khảm (nước), dưới là Tốn (gió)




Lên (Thăng) tới cùng thì bị khốn, mà té xuống dưới, cho nên
sau quẻ Khốn tới quẻ Tỉnh (giếng, tức chỗ thấp hơn hết).
Thoán từ:
井: 改邑不改井, 无喪无得, 往來井井.汔至, 亦未繘井, 羸其瓶, 凶.
Tỉnh: Cải ấp bất
cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh.
Ngật chí, diệc vị
duật tỉnh, luy kì bình, hung.
Dịch: giếng: đổi ấp chứ không đổi
giếng, nước giếng không kiệt mà cũng không thêm; người qua người lại để
múc nước giếng. Gần đến nơi (đến giếng), chưa kịp thòng dây gàu xuống mà
bể cái bình đựng nước, thì xấu.
Giảng: Theo tượng quẻ, trên là nước
(Khảm), dưới là gỗ (Tốn ở đây không hiểu là gió mà hiểu là cây, là đồ
bằng gỗ - trỏ cái gàu), có nghĩa là thòng cái gàu xuống nước để múc lên.

Theo hình của quẻ: dưới cùng là một âm, như mạch nước, rồi tiến lên
là hai hào dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là hào âm, tức
nước giếng, lòng giếng: trên nữa là một vạch liền, tức cái nấp giếng,
trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng.
Đại tượng truyện giảng
một cách khác: nước (Khảm) ở trên cây (Tốn), tức là nhựa (nước từ dưới
đất theo thân cây lên) ở ngọn cây, cũng như mạch nước ở trong giếng,
chảy ra, cho nên gọi là quẻ Tỉnh.
Bản thể của cái giếng là ở đâu thì
ở đấy, ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định; có nước mạch chảy
vô giếng hoài, nên nước giếng không kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên tới
một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai cũng
lại giếng để lấy nước (tỉnh tỉnh: chữ tỉnh trên là động từ, chữ tỉnh
dưới là danh từ), kẻ qua người lại thường, người nào cũng nhờ nó mà có
nước, nó giúp đỡ mọi người mà như vô tâm.
Nói về nhân sự thì người
đi lấy nước, đã gần tới rồi, chưa kịp thòng dây gàu (duật) xuống, mà
đánh vỡ cái bình đựng nước thì thật uổng công; vậy làm việc gì cũng phải
cẩn thận, đến nơi đến chốn để khỏi thất bại nửa chừng.
Thoán truyện
bảo giếng ở đâu ở đấy, không thay đổi như ấp, vậy là có đức cương trung
của hào 2 và hào 5.
Đại tượng truyện khuyên người quân tử nên coi
tượng cái giếng mà nuôi dân và chỉ cho dân cách giúp đỡ lẫn nhau.
Hào
từ:
1.
初六: 井泥不食.舊井无禽.
Sơ lục: tỉnh nê,
bất thực, cựu tỉnh vô cầm.
Dịch: Hào 1, âm: Giếng lầy bùn, không ai
lại lấy nước; không có con vật nào lại một giếng cũ.
Giảng: Hào 1 âm
nhu, ở địa vị thấp nhất, hào 4 ở trên cũng không giúp gì nó, chính là
hạng người vô dụng, bất tài, nên ví như cái giếng không có mạch, bị bùn,
không ai lại lấy nước, chim muông cũng không tới.
2.

二: 井谷, 射鮒, 甕敝漏.

Cửu nhị: Tỉnh cốc, xạ phụ, ủng tệ lậu.
Dịch:
Hào 2, dương: giếng ở trong hang (có người hiểu là giếng có cái hang),
nước chỉ lách tách ít giọt bắn vào con giếc, như cái chum nứt, nước dỉ
ra.
Giảng: Hào này dương cương, có tài hơn hào 1, nhưng địa vị cũng
thấp, trên cũng không có người ứng viện cho, nên cũng không làm nổi việc
đời, ví như cái giếng nước tuy trong, nhưng nước mạch ít, chỉ dỉ ra đủ
nuôi con giếc, chứ không có người tới múc. Hào này khác hào 1 ở chỗ 1 vì
bất tài mà vô dụng, hào này vì hoàn cảnh mà hoá vô dụng.
3.
九三: 井渫不食, 為我心惻.可用汲. 王明, 並受其福.
Cửu tam: tỉnh tiết bất
thực, vi ngã tâm trắc.
Khả dụng cấp; vương minh, tịnh thụ kì phúc.
Dịch:
Hào 3, dương: giếng trong mà chẳng ăn, để lòng ta thương xót, có thể
dùng mà múc lên được; gặp ông vua sáng suốt thì mọi người đều được phúc.

Giảng: Hào dương này đắc chính, là người có tài, muốn giúp đời,
nhưng địa vị còn ở thấp (nội quái), không được dùng, ví như cái giếng
nước trong mà không ai múc. Nếu được ông vua sáng suốt dùng, thì người
đó sẽ giúp cho mọi người được nhờ.
4.
六四: 井甃, 无咎.

Lục tứ: Tỉnh trứu, vô cữu.
Dịch: Hào 4, âm: Giếng mà thành và
đáy xếp đá, không có lỗi.
Giảng: Hào này âm nhu, tài tầm thường,
nhưng đắc chính, ở gần hào 5 chí tôn, nên nhờ 5 mà làm được việc nhỏ,
không có lỗi, ví như cái giếng mạch không nhiều, nhưng xếp đá ở thành và
đáy, thì nước mạch thấm vào, lóng lại, cũng tạm dùng được.
5.
九五: 井洌, 寒泉食.
Cửu ngũ: Tỉnh liệt, hàn tuyền thực.
Dịch:
Hào 5, dương: Nước giếng trong, lạnh, múc lên ăn được.
Giảng: Hào
nay dương cương, đắc trung, ở ngôi chí tôn, có ân trạch với dân chúng,
nên ví với nước giếng vừa trong, vừa mát, lại múc lên được.
6.
上六: 井收, 勿幕, 有孚, 元吉.
Thượng lục: Tỉnh thu, vật mạc, hữu
phu, nguyên cát.
Dịch: Hào trên cùng, âm: Nước giếng múc lên rồi,
đừng che đậy, cứ mãi mãi như vậy, không thay đổi thì rất tốt.
Giảng:
Hào trên cùng này tuy là âm nhu, nhưng ở cuối cùng quẻ Tỉnh, nó có cái
tượng nước giếng đã múc lên rồi, nên để cho mọi người dùng, chứ đừng che
đậy, và cứ như vậy giúp đời mãi thì không gì tốt bằng.
*

Chúng ta để ý, quẻ Tỉnh này có điểm đặc biệt
là các hào càng lên cao càng tốt, tốt nhất là hào trên cùng.
Thường
các quẻ khác, hào trên cùng có nghĩa là cùng cực: hễ là quẻ tốt như quẻ
Càn, quẻ thái thì hào trên cùng xấu; nếu là quẻ xấu như quẻ Bĩ, quẻ khốn
thì hào trên cùng tốt, vì luật: cực thì phải biến, tốt biến ra xấu, xấu
biến thành tốt. quẻ Tỉnh này với quẻ Đỉnh (và một số quẻ nữa như quẻ
Tiêm . . .), hào trên cùng không có nghĩa cùng cực, mà có nghĩa là lúc
cuối (chung), lúc nước đã múc lên (Tỉnh) hoặc thức ăn đã chính (đỉnh),
tức là lúc thành công, cho nên đều tốt cả.

6 thg 3, 2010

39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN

Nếu chỉ lên quẻ Trạch Sơn Hàm thì đúng là những gì ta đang có. Nhưng biến của nó...Quẻ Thủy Sơn Kiển (vì hào 4 động) lại là những gì ta đang đối mặt. Vậy thì cuối cùng ta phải làm sao đây...

39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN


Trên là
Khảm (nước), dưới là Cấn (núi)




Ở thời chia lìa chống đối thì tất gặp nỗi gian nan, hiểm
trở, cho nên sau quẻ Khuê tới quẻ Kiển (gian nan)
Thoán từ;
蹇: 利西南, 不利東北, 利見大人, 貞吉.
Kiển: Lợi Tây Nam, bất lợi đông
Bắc, lợi kiến đại nhân, trinh cát.
Dịch: Gian nan: đi về Tây nam
thì lợi, về đông Bắc thì bật lợi. Gặp đại nhân giúp cho thì lợi; bền
giữa đạo chính thì mới tốt.
Giảng: Trước mặt là sông (Khảm), sau
lưng là núi(Cấn), tiến lui đều gian nan hiểm trở nên gọi là quẻ Kiển.
Phải bỏ đường hiểm trở mà kiếm đường bằng phẳng dễ đi, ở hướng Tây Nam,
hướng quẻ Khôn, đừng đi hướng đông Bắc, hướng quẻ Cấn. Dĩ nhiên chúng ta
không nên hiểu đúng từng chữ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi.

thời gian nan này, phải nhờ có người có tài, đức (đại nhân) giúp cho
thì mới thoát nạn (lợi kiến đại nhân), và phải bền giữ đạo chính.
Đại
tượng truyện khuyên phải tự xét mình mà luyện đức (phản thân tu đức).
Hào
từ:
1.
初六: 往蹇, 來譽.
Sơ lục: vãng kiển, lai
dự.
Dịch: Hào 1, âm: tiến lên thì gặp nạn, lui lại (hoặc ngừng) thì
được khen.
Giảng: Vào đầu thời gian nan, hào 1 này âm nhu, không có
tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời.
2.
六二: 王臣蹇蹇, 匪躬之故.
Lục nhị: Vương thần kiển kiển, phỉ cung
chi cố.
Dịch: Hào 2 âm: bậc bề tôi chịu gán hết gian nan này tới
gian nan khác là vì vua, vì nước, chứ không phải vì mình.
Giảng: hào
này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung đắc chính, có đức, được vua
(hào 5, dương mà cũng trung chính) phó thác việc nước, nên phải chống
chỏi với mọi gian nan, không dám từ, mặc dầu tự biết không chắc gì cứu
nước, cứu dân được trong thời khó khăn này. Hoàn toàn không vì mình,
đáng khen.
3.
九三: 往蹇, 來反.
Cửu tam: Vãng
kiển, lai phản.
Dịch: Hào 3, dương: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở
lại.
Giảng: hào này dương cương đắc chính, nhưng vẫn còn ở nội quái,
tức chưa hết nửa thời gian nan, lại thêm hào trên cũng âm nhu, ứng với
nó mà không giúp được gì, nên Hào từ khuyên đừng tiến, cứ quay lại với
hào âm thì vui vẻ hơn; bề gì cũng là bạn cũ rồi.
4.

四: 往蹇, 來連.

Lục tứ: Vãng kiển, lai liên.
Dịch: Hào 4, âm:
tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại mà liên hiệp với các hào dưới.
Giảng:
Hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lên ngoại quái, quá nữa thời gian nan,
nhưng lại gặp hiểm trở (ngoại quái là Khảm) cũng không nên tiến lên, mà
nên lùi lại với hào 3, liên hợp với ba hào ở dưới, để thêm thế lực.
5.

九五: 大蹇, 朋來.
Cửu ngũ: Đại kiển, bằng lai.
Dịch:
Hào 5, dương: cực kỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp.
Giảng: Ở giữa
ngoại quái khảm (hiểm) cho nên cực kỳ gian nan. Hào này như ông vua có
tài, nhưng cũng khó thoát được hiểm. May có hào 2 đắc trung, đắc chính
ứng với mình, sẳn lòng dắt các bạn tức các hào 1, 3, 5 tới giúp mình.
Nhưng các hào ấy đều ít tài, trừ hào 3; như vậy là tay chân của 5 tầm
thường cả, không làm nên việc lớn, nên Hào từ không khen là tốt. Cũng
không dùng chữ lai, không bảo nên lùi vì địa vị nguyên thủ của 5 không
cho phép 5 lùi được, lùi thì trút trách nhiệm cho ai?
6.
上六: 往蹇, 來碩, 吉.利見大人.
Thượng lục: Vãng kiển, lai thạc,
cát, lợi kiến đại nhân.
Dịch: Hào trên cùng ,âm; tiến tới thì gian
nan, lùi lại thì làm được việc lớn, tốt; nên tìm gặp đại nhân thì có
lợi.
Giảng: ở cuối thời gian nan, có cảnh tượng đáng mừng; hào này
âm nhu, không một mình mạo hiểm được nên quay lại giúp hào 5, bậc đại
nhân (có tài đức), thì lập được công lớn (thạc), tốt.
*

Gặp thời gian nan, nên thận trọng đợi thời.
Riêng vị nguyên thủ phải tìm người tốt giúp mình, liên kết mọi tầng lớp
để cùng mình chống đỡ.

31- QUẺ TRẠCH SƠN HÀM

Sáng nay buồn buồn chả biết làm gì, liền ngẫm bốc lên 1 quẻ. Phải ngay
quẻ Trạch Sơn Hàm. Lôi về đây từ từ 64 quẻ dịch để rảnh rỗi suy ngẫm.
 

Trên là Đoài (chằm), dưới là Cấn (núi)

Kinh thượng bắt đầu bằng hai quẻ Càn Khôn: trời, đất. Có trời đất rồi
mới có vạn vật, có vạn vật rồi mới có nam, nữ; có nam nữ rồi mới thành
vợ chồng, có cha con, vua tôi, trên dưới, lễ nghĩa.

Cho nên đầu kinh
thượng là Càn, Khôn, nói về vũ trụ; đầu kinh hạ là Hàm, Hằng, nói về
nhân sự. Hàm là trai gái cảm nhau. Hằng là vợ chồng ăn ở với nhau được
lâu dài.

Thoán từ:
咸: 亨, 利貞, 取女吉.
Hàm:
Hanh, lợi trinh, thú nữ cát.

Dịch: giao cảm thì hanh thông, giữ đạo
chính thì lợi, lấy con gái thì tốt.

Giảng: đoài là thiếu nữ ở trên,
Cấn là thiếu nam ở dưới (1). Cảm nhau thân thiết không gì bằng thiếu
nam, thiếu nữ. Cảm nhau thì tất hanh thông.

Thiếu nữ ở trên, thiếu
nam phải hạ mình xuống cạnh thiếu nữ; hồi mới gặp nhau thì phải vậy; chứ
nếu thiếu nữ cầu cạnh thiếu nam thì là bất chính, không tốt. Cho nên
thoán từ bảo phải giữ đạo chính mới có lợi. Hai bên giữ đạo chính cả thì
cưới vợ chắc tốt lành.

Hàm 咸 khác cảm 感 ở điểm: Cảm có chữ Tâm 心 là
lòng, hàm thì không. Hàm là tự nhiên hai bên tương hợp, rồi cảm nhau,
không có tư ý, không vì một lẽ nào khác, phải hư tâm (trống rỗng trong
lòng) .

Đại tượng truyện khuyên: “dĩ hư tâm thụ nhân”. Như trên núi
có chỗ trũng xuống (hư) để nước đọng lại mà thành cái chằm.

Hư tâm
thì lòng được tĩnh, như cái núi (nội quái là Cấn), mà vui như tính của
cái chằm (ngoại quái là Đoài) (chỉ nhi duyệt; lời Thoán truyện); muốn
giữ được lòng tĩnh thì phải “khắc kỉ phục lễ” tự chủ được mình mà giữ
lễ.

Tóm lại, Thoán từ cho rằng trai gái cảm nhau phải chân thành, tự
nhiên, vì nết, vì tài thì mới tốt; mà khi cảm nhau rồi phải tự chủ, giữ
lễ, đừng để đến nỗi hóa ra bất chánh.

Coi đạo âm dương giao cảm mà
sinh hóa vạn vật, thánh nhân chí thành mà cảm được thiên hạ, thì thấy
được chân tình của thiên địa, vạn vật. Đạo cảm nhau quả là quan trọng.

Hào
từ:

1
初六: 咸其拇.
Sơ lục: Hàm kì mẫu.
Dịch:
Hào 1, âm: Như cảm ngón chân cái.

Giảng: Hào từ lấy thân người làm
thí dụ. Hào 1 ở dưới cùng. Nó ứng với hào 4, thấp mà cảm với trên cao,
sức cảm còn nhỏ, chưa động được lòng người, mới hơi động được ngón chân
thôi. Không khen cũng không chê.

2.
六二: 咸其腓, 凶; 居吉.

Lục nhị: Hàm kì phì, hung; cư cát.
Dịch: Hào 2, âm: Cảm được
bắp chân, xấu; ở yên thì tốt.

Giảng: Hào 2, cao hơn một chút, ví như
bắp chân. Nó ứng với hào 5, nhưng nó là âm, phận gái, mà còn ở dưới
thấp, nếu nóng lòng cầu thân với 5 thì xấu. Nó nên giữ nết trung chính
(vì là hào 2 đắc trung, đắc chính) của nó thì mới tốt, như vậy mới hợp
đạo lý.

Thoán truyện bảo: quẻ Hàm này, hễ tĩnh thì tốt; cho nên hào 2
này khuyên không nên động.

3.
九三: 咸其股, 執其隨, 往吝.

Cửu tam: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lận.
Dịch: Hào 3, dương :
cảm được tới đùi, chỉ muốn theo người, cứ như vậy mà tíến thì xấu.

Giảng:
Hào này ở trên cùng nội quái, nên ví với bắp đùi. Nó là dương cương,
ham tiến, muốn theo hào 4 cũng dương cương ở trên nó; trong thời Hàm,
nên tĩnh mà nó động, lại động theo người nữa, đáng chê.

4.
九四: 貞吉悔亡; 憧憧往來, 朋從爾思.
Cửu tứ: Trinh cát hối vong; đồng
đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.

Dịch: Hào 4, dương: hễ chính đáng
thì tốt, mà mất hết những điều đáng ăn năn. Nhược bằng nếu lăng xăng
tính toán có qua có lại với nhau thì những người qua lại với anh chỉ là
những người anh nghĩ tới mà thôi (ý nói: số bạn không đông, đoàn thể
không lớn).

Giảng: Hào này đã lên ngoại quái, dương cương, lại ở quẻ
đoài (vui vẻ), tức là có tình hoà duyệt, nặng về cảm tính, cho nên ví
với trái tim (tấm lòng). Tình cảm phải chính đáng, chí công vô tư, như
vậy mới tốt, không phải ăn năn. Nếu có óc tính toán, tốt với người để
mong người tốt lại với mình, có đi có lại thì số bạn không được đông.

Theo
Hệ từ truyện, Chương V, Khổng tử giảng hào này rất kỷ, chúng tôi trích
ra đoạn dưới đây:

“ Đạo lý trong thiên hạ, cần gì phải ngẫm nghĩ
bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt, vì thiên hạ đường đi tuy khác nhau
mà qui kết thì ý như nhau: tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào
một lẽ (lẽ đó là có cảm thì có ứng, ứng lại gây ra cảm) cần gì phải ngẫm
nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt. . .”

5.

五: 咸其脢, 无悔.

Cửu ngũ: Cảm kì mỗi, vô hối.
Dịch: Hào 5,
dương : Cảm tới bắp thịt ở trên lưng, không hối hận.

Giảng: Bắp thịt
ở trên lưng, cao hơn tim (hay lòng) mà trái với tim, không cảm được
vật. Không cảm được vật mà cũng không có tư tâm, tư ý, nên cũng không có
gì hối hận. Có lẽ vì hào 5 này dương cương, ở vị rất cao, trung, chính,
cách biệt dân chúng quá, cho nên Chu Hi bảo là “không cảm được vật”
chẳng?

6.
上六: 咸其輔, 頰, 舌.
Thượng lục: Hàm
kì phụ, giáp , thiệt.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Cảm người bằng mép,
má, lưỡi.

Giảng: Hào này ở trên cùng Hàm, nên ví với mép, má, lưỡi.
Nó là âm nhu ở trong ngoại quái Đoài (vui vẻ), ham cảm người ta bằng
miệng lưỡi, không thành thực. Chẳng cần nói cũng biết là đáng chê rồi.

*

Đạo cảm người phải chí thành, tự nhiên,
không dùng trí tính toán, nhưng cũng không nên có tư ý, tư tâm.

31 thg 1, 2010

Yêu em nhiều hơn

Rồi mỗi ngày ta lại yêu hơn
Dẫu vẫn biết ngày mai không hề đến
Dành cả cho em bao nhiêu trìu mến
Nỗi nhớ đong đầy xen với nỗi cô đơn



Quan hệ gia đình( suutam)

Có ba mối quan hệ cơ bản nơi con người. Thứ nhất, sự quan hệ giữa chồng và vợ; kế tiếp là giữa cha mẹ và con cái; và sau cùng là giữa anh chị em. Tất cả các quan hệ khác đều dựa trên ba mối quan hệ này.


Thế nào là mối quan hệ lý tưởng giữa cha và con? Đó là tình yêu hòa lẫn với sự tôn trọng và lòng trìu mến, cộng với phẩm hạnh. Cha yêu con, và cùng lúc đó, ông ta phải đủ tư cách để giữ được sự kính trọng nơi ông. Ông ta yêu con cái, nhưng vẫn phải giữ được mức độ phẩm hạnh. Chỉ có tình yêu kết hợp với phẩm hạnh mới có thể làm nảy sinh lòng hiếu thảo nơi con cái.


Khổng Tử đã bảo rằng người cha phải giữ một khoảng cách đối với con cái. Không có khoảng cách thích đáng, người ta khó lòng vun bồi được mối quan hệ mà trong đó cha yêu con và con cái có lòng hiếu đễ đối với cha mẹ.  Sự quá thân mật có thể khiến đứa bé sinh lờn. Dó đó người cha tốt nhất là không nên ngủ chung phòng với con.


Hay nhất là người cha không dạy cho chính con mình. Có những chuyện, như giới tính chẳng hạn, người khác dạy thì vẫn hay hơn là cha mẹ.


Người thầy có thể đòi hỏi học trò mình làm việc chăm chỉ. Ông ta có quyền bày tỏ sự giận dữ nếu người học trò không làm đúng. Thế nhưng, nếu cha mẹ giận dữ với con cái, con cái có thể nghĩ rằng tuy cha mình đang dạy mình ăn ở cho phải đạo, nhưng bản thân ông ta không làm như những gì ông ta đã dạy. Điều này có thể dẫn tới sự xa lánh, và không gì tệ hại cho bằng sự ghẻ lạnh giữa cha và con. Đó là lý do tại sao thời xưa người cha chỉ dạy cho con cái người khác, chứ không dạy cho chính con mình.


Tôi hy vọng rằng bạn hiểu rõ điểm tế nhị này trong chuyện giáo dục con cái.


Anh chị em yêu thương lẫn nhau. Khi lớn lên, bạn ăn cùng mâm với anh chị em mình; bạn học và chơi đùa cùng nhau, hay thậm chí cùng chia sẽ quần áo với nhau. Điều hết sức tự nhiên là bạn thu hút lẫn nhau. Điều cũng rất tự nhiên là bạn tin rất nhiều vào anh chị em mình. Nếu họ làm bạn thất vọng, bạn rất dễ khó chịu nhưng rồi tươi tỉnh lại cũng rất nhanh. Quan hệ huyết thống là một quan hệ đặc biệt, khác hẳn với các quan hệ thông thường. Nếu có sự rạn nứt trong quan hệ của bạn với anh chị em ruột của mình, bạn phải lập tức sửa ngay không chút chậm trễ. Đừng bao giờ để nó lan rộng ra.


Điều cũng kỳ lạ là, tôi thấy có nhiều người rất tốt với bạn bè, nhưng lại có vẻ chẳng mặn mòi gì lắm trong quan hệ với anh chị em ruột của mình. Họ đối xử với người ngoài rất tốt, nhưng khắt khe với người trong nhà. Một số người còn thu hút sự trung thành của hàng chục vạn người, nhưng lại chẳng tử tế với anh em ruột của mình.


Đối nhiều bậc làm cha làm mẹ thì có vẻ khó yêu thương hết thảy con cái của mình một cách đồng đều được.  Nhưng các bậc làm cha làm mẹ phải nhớ trong đầu rằng sự thiên lệch có những hậu quả không hay. Một đứa trẻ sáng dạ và cư xử hay đáng được yêu thương và chấp thuận, nhưng một đứa trẻ chậm hiểu và ươn bướng cũng đáng được yêu thương và thông cảm vậy. Việc thiên lệch đối với một đứa trẻ có thể khiến cho nó trở nên quá cao ngạo, không thể hòa mình cùng với các anh chị em khác.


Thông thường, trẻ con hay noi theo gương cha mẹ. Nếu cha mẹ chu đáo với con cái, đứa trẻ có khuynh hướng yêu thương cha mẹ. Nếu người anh lạnh nhạt với người em, người em sẽ không trọng anh mình. Nếu người chồng thiếu trung tín, anh ta đừng mong người vợ biết nghe lời mình. Thế nhưng, còn chuyện đứa con lại ngỗ ngược trong khi lại đối xử rất tôt với nó thì sao, hoặc chuyện người em hay cãi trong khi người anh lại đối xử rất đàng hoàng, hay như chuyện người chồng thì chung thủy và biết yêu thương, nhưng người vợ thì rất đanh đá thì sao? Những hạng người như vậy có bản chất xấu, và chỉ có sự trừng phạt mới có thể dừng họ lại mà thôi.


Ảnh hưởng đạo đức có giới hạn của nó. Có một điểm mà ở nơi đó sự thuyết phục bằng đạo lý ngừng lại và sự trừng phạt bắt đầu. Không có sự trừng phạt thích đáng, một đứa trẻ xấu sẽ đi từ xấu đến tệ hại. Làm chủ một gia đình không khác gì làm chủ một đất nước. Không có luật pháp, bạn chẳng thể quản lý được đất nước. Không có sự tưởng thưởng cho hành vi tốt và trừng phạt thích đáng đối với hành vi xấu, bạn chẳng thể quản lý được gia đình. Quá nhân hậu cũng xấu không thua gì quá hà khắc. Tốt nhất là phải biết cân bằn giữa hai cái

6 thg 12, 2009

Đêm Say


Và cũng một khuya
Có ai đó chong đèn bên điếu thuốc
Chân trời mây từng đàn sẫm màu lem luốc
Mái hiên nhà, có có gã khờ gầy guộc những suy tư

Rồi có một đêm
Mắt trông ngóng xa xăm tìm về bóng dáng
Biết ai đó đang mơ hay như mình thức trắng
Có đứng trước hiên nhà thườn thượt chẳng thành câu

Này dốc tình say
Uống cho mối duyên ngày càng bế tắc
Uống cho thấy trên đời toàn đắng ngắt
Vật vờ say, ngập tràn say người có nào hay...


đêm say 24.11.09

27 thg 11, 2009

MƯA ĐÊM


Nghe ai bảo mưa đêm da diết lắm
Thức mấy giờ liền mong được ngắm mưa đêm
Gió đìu hiu trăng dìu dịu bên thềm
Sương lấp lánh rung rinh trên cành lá

Ta ngồi nghe tiếng đời đi vội vã
Mưa đâu rồi đêm đã sắp tàn đêm
Ừ mình ngồi...và ngồi chút đợi thêm
Mong mưa tới hay...niềm da diết tới

Nơi xa xăm có ai đang ngóng đợi?
Có mưa về ...hay lại nắng bừng lên
Sáng rồi ư? Mưa...chẳng thấy...buồn tênh
Nhoài mệt giấc ngủ vùi bên góc nhỏ

Trong cơn mơ em trở về ở trọ
Mưa đêm đây rồi...trên khóe mắt long lanh
Vẫn như sương từng giọt nhỏ mong manh
Sao ào ạt lòng anh da diết quá....

Đêm 24.11.09