6 thg 3, 2010

39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN

Nếu chỉ lên quẻ Trạch Sơn Hàm thì đúng là những gì ta đang có. Nhưng biến của nó...Quẻ Thủy Sơn Kiển (vì hào 4 động) lại là những gì ta đang đối mặt. Vậy thì cuối cùng ta phải làm sao đây...

39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN


Trên là
Khảm (nước), dưới là Cấn (núi)




Ở thời chia lìa chống đối thì tất gặp nỗi gian nan, hiểm
trở, cho nên sau quẻ Khuê tới quẻ Kiển (gian nan)
Thoán từ;
蹇: 利西南, 不利東北, 利見大人, 貞吉.
Kiển: Lợi Tây Nam, bất lợi đông
Bắc, lợi kiến đại nhân, trinh cát.
Dịch: Gian nan: đi về Tây nam
thì lợi, về đông Bắc thì bật lợi. Gặp đại nhân giúp cho thì lợi; bền
giữa đạo chính thì mới tốt.
Giảng: Trước mặt là sông (Khảm), sau
lưng là núi(Cấn), tiến lui đều gian nan hiểm trở nên gọi là quẻ Kiển.
Phải bỏ đường hiểm trở mà kiếm đường bằng phẳng dễ đi, ở hướng Tây Nam,
hướng quẻ Khôn, đừng đi hướng đông Bắc, hướng quẻ Cấn. Dĩ nhiên chúng ta
không nên hiểu đúng từng chữ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi.

thời gian nan này, phải nhờ có người có tài, đức (đại nhân) giúp cho
thì mới thoát nạn (lợi kiến đại nhân), và phải bền giữ đạo chính.
Đại
tượng truyện khuyên phải tự xét mình mà luyện đức (phản thân tu đức).
Hào
từ:
1.
初六: 往蹇, 來譽.
Sơ lục: vãng kiển, lai
dự.
Dịch: Hào 1, âm: tiến lên thì gặp nạn, lui lại (hoặc ngừng) thì
được khen.
Giảng: Vào đầu thời gian nan, hào 1 này âm nhu, không có
tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời.
2.
六二: 王臣蹇蹇, 匪躬之故.
Lục nhị: Vương thần kiển kiển, phỉ cung
chi cố.
Dịch: Hào 2 âm: bậc bề tôi chịu gán hết gian nan này tới
gian nan khác là vì vua, vì nước, chứ không phải vì mình.
Giảng: hào
này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung đắc chính, có đức, được vua
(hào 5, dương mà cũng trung chính) phó thác việc nước, nên phải chống
chỏi với mọi gian nan, không dám từ, mặc dầu tự biết không chắc gì cứu
nước, cứu dân được trong thời khó khăn này. Hoàn toàn không vì mình,
đáng khen.
3.
九三: 往蹇, 來反.
Cửu tam: Vãng
kiển, lai phản.
Dịch: Hào 3, dương: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở
lại.
Giảng: hào này dương cương đắc chính, nhưng vẫn còn ở nội quái,
tức chưa hết nửa thời gian nan, lại thêm hào trên cũng âm nhu, ứng với
nó mà không giúp được gì, nên Hào từ khuyên đừng tiến, cứ quay lại với
hào âm thì vui vẻ hơn; bề gì cũng là bạn cũ rồi.
4.

四: 往蹇, 來連.

Lục tứ: Vãng kiển, lai liên.
Dịch: Hào 4, âm:
tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại mà liên hiệp với các hào dưới.
Giảng:
Hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lên ngoại quái, quá nữa thời gian nan,
nhưng lại gặp hiểm trở (ngoại quái là Khảm) cũng không nên tiến lên, mà
nên lùi lại với hào 3, liên hợp với ba hào ở dưới, để thêm thế lực.
5.

九五: 大蹇, 朋來.
Cửu ngũ: Đại kiển, bằng lai.
Dịch:
Hào 5, dương: cực kỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp.
Giảng: Ở giữa
ngoại quái khảm (hiểm) cho nên cực kỳ gian nan. Hào này như ông vua có
tài, nhưng cũng khó thoát được hiểm. May có hào 2 đắc trung, đắc chính
ứng với mình, sẳn lòng dắt các bạn tức các hào 1, 3, 5 tới giúp mình.
Nhưng các hào ấy đều ít tài, trừ hào 3; như vậy là tay chân của 5 tầm
thường cả, không làm nên việc lớn, nên Hào từ không khen là tốt. Cũng
không dùng chữ lai, không bảo nên lùi vì địa vị nguyên thủ của 5 không
cho phép 5 lùi được, lùi thì trút trách nhiệm cho ai?
6.
上六: 往蹇, 來碩, 吉.利見大人.
Thượng lục: Vãng kiển, lai thạc,
cát, lợi kiến đại nhân.
Dịch: Hào trên cùng ,âm; tiến tới thì gian
nan, lùi lại thì làm được việc lớn, tốt; nên tìm gặp đại nhân thì có
lợi.
Giảng: ở cuối thời gian nan, có cảnh tượng đáng mừng; hào này
âm nhu, không một mình mạo hiểm được nên quay lại giúp hào 5, bậc đại
nhân (có tài đức), thì lập được công lớn (thạc), tốt.
*

Gặp thời gian nan, nên thận trọng đợi thời.
Riêng vị nguyên thủ phải tìm người tốt giúp mình, liên kết mọi tầng lớp
để cùng mình chống đỡ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét